Những thành phần độc hại trong hóa mỹ phẩm

Làn da được thiết kế để bảo vệ cơ thể khỏi vô số những đe dọa. tế bào da được sắp xếp như hình viên gạch, liên kết lại để tạo ra một rào chắn bảo vệ cơ thể. Nhưng hầu như các tế bào da lại không kết dính chặt chẽ như gạch và vữa nên vẫn có những thứ có thể thâm nhập vào. Đó là một tin tốt nếu bạn đang dùng một loại kem chống nếp nhăn và lão hóa, nhưng lại là một tin xấu khi các hóa chất mạnh mẽ thâm nhập vào làn da mỏng manh và nhạy cảm của bạn. ( nguồn cnn.com/health )

Các chuyên gia đã chứng minh được rằng khi bôi những thành phần độc hại lên da thì còn nguy hiểm hơn là ăn chúng. Những lớp chất độc này sẽ áo bên ngoài thiết kế quán karaokeda như một lớp nhựa, làm cho da không thể tái sinh đúng cách, chúng gây ra nhiều vấn đề về da từ kích ứng nhẹ đến một loạt các bệnh về da nguy hiểm. Những thành phần độc hại này được hấp thu trực tiếp vào cơ thể, vào trong máu và được tích trữ trong các mô mỡ, có thể trở thành ung thư, biến đổi cấu trúc AND, gây vô sinh, nhiễm độc hệ thần kinh và gây ra một loạt các bệnh lạ mà chúng ta chưa từng gặp.

Bạn có thể tham khảo các thông tin trên từ các nguồn sau MATERIAL SAFETY DATA SHEETS,COSMETICSDATABASE.COM, COSMETICSINFO.ORG and PESTICIDEINFO.ORG.

            Sự thay đổi cần phải có thời gian, trừ khi có một cái gì gây nguy hiểm nhìn thấy được ngay lập tức. Tôi không nghĩ rằng ném đi toàn bộ những hóa mỹ phẩm trong phòng tắm của bạn là cần thiết khi mà bạn đã quen dùng chúng trong nhiều năm. Và thậm chí ngay cả khi bạn từ từ chuyển qua lựa chọn những sản phẩm thay thế ít độc hại hơn thì vẫn có những thứ mà bạn vẫn không thể sống thiếu chúng. Sự điều độ là chìa khóa của cuộc sống. Một số thành phần chỉ có hại khi sử dụng chúng liên tục trong thời gian dài. Tôi hy vọng rằng bạn sẽ tìm thấy sự hữu ích của bài viết này.

  • Alkyloamides- chất nhũ hóa, làm đặc và làm mềm da
  • DEA – diethanolamides
  • MEA – monoethanolamides
  • TEA - triethanolamides
  • MIPA – monoisopropanolamides
  • PEG or ethoxylated alkyloamides

Các chất trên được sản xuất từ các acid béo như là nguyên liệu ban đầu, không được xem là độc hại nhưng có thể trở nên độc hại nếu bị nhiễm nitrosamines. Nitrosamines được xem là nguyên nhân gây ra ung thư. Các hóa chất khác có thể gây ra sự nhiễm độc nitrosamine như Cocoyl Sarcosine, 2-bromo-2-nitropropane-1,3-diol, Imidazolidinyl Urea, Hydrolysed Animal Protein, Lauryl Sarcosine, Quaternium-7, 15, 31, 60, etc, Sodium Lauryl Sulfate, Ammonium Lauryl Sulfate, Sodium Laureth Sulfate, Ammonium Laureth Sulfate and Sodium Methyl Cocoyl Taurate, Sodium Lauryl Ether Sulfate, Anhydrous Sodium Lauryl Sulfate, Irium, SLS, SLES, MSDS, ALES, ALS.

Tác dụng nguy hiểm: SLS hoạt động như một chất tẩy rửa, gây khô da và có thể hình thành các hợp chất gây ung thư khi kết hợp với một hóa chất nào đó khác. Có một số hãng mỹ phẩm sử dụng chúng như một thành phần để tạo bọt. Còn một số khác lại sử dụng chúng để kiểm tra xem khả năng gây tấy rát cho da.

  • Alcohol Denat là tên thường gọi của denatured alcohol, thường được sử dụng trong mỹ phẩm, đặc biệt là nước hoa, như chất chống tạo bọt, giảm độ nhớt, chất làm se và dung môi. Là loại dung môi làm khô và kích ứng da. Nó như một tác nhân tách nước, làm giảm độ ẩm và suy yếu hàng rào miễn dịch của da làm cho vi khuẩn, nấm mốc, virus dễ dàng xâm nhập qua da.

  • Aluminum - là nguyên tố kim loại được sử dụng trong chất chống mồ hôi và khử trùng.Một số nhà khoa học đã tìm ra mối liên hệ giữa nhôm và bệnh ung thư vú. Trong các sản phẩm chống tiết mồ hôi, nhôm hoạt động như chất khóa các lỗ chân lông trên da, ngăn cản các độc tố được thải ra ngoài cơ thể tại khu vực này. Các độc tố sau đó di chuyển đến vùng trữ chất béo gần nhất là vú hoặc thậm chí là não. Một số nghi ngờ đặt ra về mối tương quan với bệnh Alzheimers. Nhôm có thể được kê dưới tên Magnesium Aluminum Silicate hay hợp chất nhôm khác, các hợp chất nhôm này được khuyến cáo là gây độc cho hệ thống thần kinh.
  • Alcohol – là quá trình lên men tự nhiên của đường nhưng chỉ nên sử dụng ở một vùng nhỏ trên da, nếu không nó sẽ làm mất đi lớp vỏ acid tự nhiên của da và làm cho da dễ bị vi khuẩn, virus , nấm mốc, các chất gây ung thư và độc tố từ môi trường bên ngoài tấn công. Alcohol còn làm khô và làm lão hóa da nhanh hơn, đồng thời gây dị ứng và kích ứng trên da. Nếu được làm từ propylene, một dẫn xuất của dầu mỏ, nó có thể thúc đẩy sự xuất hiện sớm các đớm nâu và đẩy nhanh quá trình lão hóa da.
  • Aminomethyl Propanol -  là chất đệm điều chỉnh độ pH. Thành phần này được coi là độc tính nhẹ và bị hạn chế về tỉ lệ được sử dụng trong mỹ phẩm do có báo cáo về sự gây nhiễm độc thần kinh, nhiễm độc cơ quan, nội tiết, chất độc môi sinh. Nó có thể chứa tạp chất có hại. Nếu hợp chất nitrosamine xuất hiện do quá trình nitro hóa thì thành phần này được coi là một chất gây ung thư. Và không nhà sản xuất nào công bố sự xuất hiện nitrosamine trừ khi bạn nhận được kết quả thử nghiệm
  • Hãy cẩn thận với Glycerin, nó có thể được sản xuất tự nhiên hay nhân tạo. Ngay cả glycerin tự nhiên cũng có thể được làm từ mỡ động vật. Bạn không thể biết các động vật này có bị nhiễm kích thích tố nào và các chất này sẽ được truyền sang cơ thể bạn. Hãy sử dụng glycerin được chiết xuất từ thực vật. Tuy nhiên khi dùng glycerin trong công thức handmade sẽ làm sản phẩm bị nhờn rít.
  • Collagen - có nguồn gốc từ mô mỡ động vật, có cấu trúc khá lớn nên thực tế không thể thấm vào da, nó chỉ bao phủ trên bề mặt da gây cản trở quá trình hô hấp và tái tạo của da.
  • Stearoxytrimethylsilane- được sử dụng trong mỹ phẩm, dầu nhờn, nến, keo xịt tóc, dầu xả, lăn khử mùi, kem dưỡng da, xigum, hương vị thực phẩm… có thể gây kích ứng, khó chịu đặc biệt khi dùng trên da.
  • Gelatin- cũng có ngườn gốc động vật, gây dị ứng nặng ở một số người, nó là sản phẩm thu được khi nung xương sụn của bất kỳ động vật nào.
  • Elastin – cũng có nguồn gốc động vật, được trích từ các mô liên kết
  • Borax – được sử dụng nhiếu trong các chất tẩy rửa, thuốc trừ sâu và diệt cỏ, trong hóa mỹ phẩm borax được dùng để tạo độ trắng cho sản phẩm, ổn định nồng độ acid hay kiềm và kéo dài thời hạn sử dụng. Nó có thể gây kích ứng với da nhạy cảm. Được liệt kê trong danh sách hóa chất độc hại do nó có thể gây ung thư, các vấn đề về thận, gây khó sinh và dị tật bẩm sinh nếu thai nhi bị nhiễm borax, cho nên nó đặc biệt có hại cho trẻ em và trẻ sơ sinh.,
  • Sodium borate decahydrate,
  • Sodium tetraborate decahydrate,
  • Sodium biborate,
  • Sodium pyroborate .
  • Butylated hydroxianisole (BHA)/Butylated hydroxytoluene (BHT)- là chất chống oxy hóa tổng hợp, bị nghi ngờ là chất gây ung thư, nghiên cứu trên động vật cho thấy BHA và BHT gây căng thẳng thần kinh, giảm tốc độ tăng trưởng, sụt cân, tổn thương gan, hói đầu và dị dạng thai nhi, BHA/BHT còn bị nghi ngờ là nguyên nhân gây ra chứng tăng động và rối loạn hành vi ở trẻ em. BHA/ BHT hoạt động như một estrogen tổng hợp hay xeno-estrogen, là nguyên nhân gây viêm da tiếp xúc, kích ứng mắt và có khả năng ăn mòn kim loại, tỉ lệ hấp thu qua da lên đến 13% (nguồn: http://www.earthtobody.ca)
  • Benzoyl Peroxide: là hóa chất thường thấy trong các loại mỹ phẩm trị mụn. Tác hại: Benzoyl Peroxide được Hiệp hội hóa chất Mỹ đánh giá là tạo điều kiện cho các chất gây ung thư phát triển, có khả năng kích thích ung bướu, có thể gây đột biến gen và tổn thương ADN ở người và động vật có vú nếu dùng ở nồng độ không thích hợp. Rất độc nếu hít phải, nhiều khả năng gây tổn thương khi nuốt phải hoặc tiếp xúc trực tiếp với da. Gây kích ứng da, mắt và hô hấp.
  • Ceteareths – có khả năng nhiễm các tạp chất gây ung thư và các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác. Là chất làm tăng khả năng thẩm thấu ( thường sử dụng trong lotion ) nó làm thay đổi cấu trúc da cho phép hóa chất thâm nhập sâu hơn vào da, làm tăng lượng độc tố trong máu.
  • Màu - FD&C Blue 1, FD&C Green 3, FD&C Red 33, FD&C Yellow 5, và FC&C Yellow 6 được chứng minh là gây ung thư khi bôi trên da. Một số màu nhân tạo có chứa các tạp chất kim loại nặng, trong đó có chứa thạch tín và chì là chất gây ung thư và độc hại. Một số màu thực phẩm có chứa chất bảo quản gốc paraben, các chất gốc paraben này sẽ ít độc hại hơn khi ăn so với khi bôi trực tiếp lên da .
  • Disodium EDTA (và muối của nó) – về cơ bản thành phần này là độc hại nếu hít phải, ăn nó hoặc hấp thu vào cơ thể. Chất hóa học này có thể đầu độc tế bào và biến đổi hệ gen, đe dọa quá trình sinh sản nhưng khộng gây ung thư
  • Distearyldimonium Chloride- là muối amoni bậc bốn, độc hại đối với môi trường, hóa chất này có hại cho người và động vật kể cả động vật dưới nước, nó gây kích ứng da, phổi nhưng nghiêm trọng nhất là mắt.
  • DMDM Hydantoin/ Ure Imidazolidinyl: là 2 trong số những chất bảo quản có khả năng sản sinh ra phormon. Tác hại: hoạt chất này có thể gây đau cơ, ung thư, phản ứng da, dị ứng, trầm cảm, đau đầu, đau ngực, viêm tai, mệt mỏi mãn tính, chóng mặt và mất ngủ. Nếu chẳng may tiếp xúc phải, các chất này có thể gây kích ứng hệ hô hấp, tim đập nhanh hoặc hen suyễn, ho lâu dài và cảm lạnh.
  • Ethylene/Acrylic Acid Copolymer- là chất gây ung thư, ảnh hưởng đến sự sinh sản và phát triển, đầu độc hệ thần kinh và gây ngộ độc cấp tính
  • Farnesol – là hợp chất hữu cơ tự nhiên có thể gây kích ứng da, những người bị dị ứng với nước hoa thì không nên dùng các sản phẩm có hóa chất này
  • Hương thơm- Fragrance – Phthalates là một họ của chất dẻo hóa học được sử dụng trong các sản phẩm chăm sóc cá nhân để dưỡng ẩm cho da và đóng vai trò như một dung môi, gần như đồng nghĩa với hương thơm. Phthalates đã được chứng minh là gây ra dị tật bẩm sinh, suy giảm sinh sản, gây ra những bất thường về tình dục, làm giảm số lượng tinh trùng và tổn thương gan. Trong hầu hết các loại nước hoa có hơn 5.000 chất độc và chất kích ứng gây ra hàng loạt vấn đề cho cơ thể như nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn và phổ biến nhất là các vấn đề về hô hấp. Phthalates có mặt trong hầu hết các loại hóa mỹ phẩm từ sữa tắm, dầu gội, kem dưỡng, nước hoa, xịt tóc, bột giặt, nước xả vải…các sản phẩm có mùi thơm và thường được ghi nhãn là Fragrance. Sự lựa chọn tốt nhất vẫn là tinh dầu nguyên chất do mùi thơm tự nhiên, không độc hại và có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên tinh dầu nguyên chất thì khá đắt tiền nên bạn có thể lựa chọn tinh dầu mùi không chứa Phthalates, loại tinh dầu mùi này tuy không hoàn toàn tự nhiên nhưng không gây hại cho cơ thể.( tham khảo thêm tại www.health-report.co.uk )
  • Hydroquinone : Được tìm thấy nhiều trong kem chống nắng, thuốc tẩy tóc, kem che khuyết điểm, dung dịch rửa mặt, kem làm trắng da. Nó còn được biết đến dưới dạng 1,4-Benzenediol, 1,4-Dihydroxybenzene, P-Dioxybenzene, 4-Hydroxyphenol, P-Hydroxyphenol,1,4Benzenediol. Tác dụng nguy hiểm: Hydroquinone sẽ dẫn đến nguy cơ mắc nhiễm chứng bệnh ung thư, phá vỡ các tuyến nội tiết và làm tăng khả năng sản xuất, phát triển của các độc tố có hại
  • Glyceryl Oleate- là chất độc với con người, gây ung thư, ảnh hưởng đến sự sinh sản và phát triển, gây độc cho hệ thần kinh và gây ngộ độc cấp tính, chất hóa học này còn gây ô nhiễm môi trường và gây hại với cả động vật dưới nước
  • Glycols – Propylene Glycol an toàn và không an toàn tùy vào sự tin tưởng của mỗi người, nó không bị cho vào danh sách chất độc nguy hiểm. Tuy nhiên các chất Glycol khác thì được công nhận là độc hại hơn. Có nguồn gốc từ hydrocacbon, glycol được dùng như chất giữ ẩm trong các loại kem dưỡng ẩm da. Họ glycol bao gồm :
  • propylene glycol;
  • glycerin;
  • ethylene glycol;
  • carbitol;
  • diethylene glycol.


Propylene Glycol có trong sản phẩm khử mùi, dầu gội sẽ gây nên hiện tượng kích ứng mạnh mẽ, gây tổn thương nặng nề cho gan và thận.

FDA cảnh báo rằng glycol có thể gây ra những phản ứng bất lợi trong quá trình sử dụng. Từ điển các thành phần hóa mỹ phẩm khuyến cáo rằng ethylene glycol, carbitol, và diethylene glycol gây hại ở nồng độ vượt quá 5%, thậm chí trong các chế phẩm để sử dụng trên các khu vực nhỏ của cơ thể. Ete glycol thường được sử dụng làm dung môi trong mỹ phẩm. Một số glycol có thể ảnh hưởng đến hệ thống sinh sản hoặc gây ra dị tật bẩm sinh, và tiếp xúc quá nhiều có thể gây tổn thương thận và gan bất thường. Glycol cũng có thể gây viêm da tiếp xúc. Tránh những chất có ký hiệu sau: EGPE, EGME, EGEE, DEGBE, PGME, DPGME, và những chất có gốc methyl.

  • Laureths- hầu như luôn bị nhiễm bởi các chất gây ung thư 1,4-dioxane và ethylene oxide. Rất nguy hiểm.
  • Sodium Laureth Sulfate (SLES), Sodium Lauryl Sulfate (SLS), Amonium Lauryl Sulfate (ALS) là loại chất tẩy rửa và hoạt chất bề mặt, tạo bọt được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp mỹ phẩm vì giá thành rẻ. Chúng gây khô và bào mòn da, mỏng tóc, gây kích ứng với da nhạy cảm. Ngoài ra, nó có thể gây đục thuỷ tinh thể và các vấn đề khác về mắt. 
  • Methylisothiazolinone and Methylchloroisothiazolinone – cả hai chất này đều được dùng như chất kháng sinh và đều gây kích ứng da, quan trọng hơn là có nguy cơ đầu độc hệ thần kinh của con người.
  • Nut Oils – dầu hạt, rất nhiều người bị dị ứng với hạt, bác sĩ nhi khoa khuyên hạn chế cho trẻ dưới 3 tuổi tiếp xúc với các loại hạt và sản phẩm có thành phần từ hạt, các loại dầu từ hạt thông thường được sử dụng trong sữa dưỡng da là macadamia và bơ shea.
  • Oxybenzone- là hợp chất hữu cơ thường được sử dụng trong kem chống nắng giúp khóa các tia UVA, có nguồn gốc từ benzophenone là chất khi được chiếu sáng sẽ tấn công các AND, thâm nhập vào da làm cho da trở nên nhạy cảm với ánh sáng và gây ra ung thư, do đó thành phần này không nên được sử dụng trong kem dưỡng da đặc biệt là kem chống nắng.
  • Sản phẩm có nguồn gốc dầu mỏ -Petro-products – thường ở dạng các chất dưỡng ẩm như dầu khoáng ( mineral oil ), Vaseline, petroleum jelly, hay paraffin jelly. Tất cả đều có nguồn gốc từ dầu mỏ, là sản phẩm phụ của quá trình chưng cất xăng từ dầu thô. Các chất này phủ lên da như một lớp nhựa, làm tắc nghẽn lỗ chân lông, cản trở sự hô hấp của da, ngăn không cho da giải phóng độc tố và tái tạo dẫn đến lão hóa sớm và gây ra các bệnh về da khác. Hầu hết các loại dầu masage em bé trên thị trường hiện nay đều có thành phần mineral oil. Các sản phẩm bôi trơn cho phụ nữ cũng có thành phần petroleum.
  • Triclosan: là một hợp chất tương đối bền được tồn trữ trong mỡ và mô động vật, là một tác nhân gây ung thư ở người. Những dấu hiệu bên ngoài cơ thể khi tiếp xúc với triclosan thường là da ửng đỏ, chảy nước mũi… Còn triệu chứng nội bao gồm sốt cao, cảm lạnh, suy hô hấp, tổn thương gan, thận, phổi, rối loạn chức năng miễn nhiễm, bệnh tim… và có thể tử vong. EPA xếp hoá chất này vào loại thuốc diệt côn trùng, gây nguy cơ cao đối với sức khỏe con người và môi trường. Đại học Y dược Tufts của Mỹ còn cho rằng triclosan chính là nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của những loại “siêu côn trùng” kháng thuốc nguy hiểm.
  • Polyacrylamide – đây là thành phần có độc tính cao, nó gây khó chịu cho da và hệ hô hấp, nó độc hại với môi trường không khí, đất và nước. Nó thấm vào da rất nhanh, gây độc cho hệ thần kinh và đầu độc hệ gien của con người.
  • Polyethylene- (PEGs) theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí quốc tế về chất độc thì PEGs bao gồm cả PEG 40 Hydrogenated Castor Oil có thể chứa các tạp chất có hại như Ethylene Oxide làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú và tử cung, bệnh bạch cầu và ung thư não.
  • Preservatives – Chất bảo quản thường được sử dụng trong các sản phẩm chăm sóc da, giúp sản phẩm không bị nhiễm khuẩn, nấm mốc, nấm men hay bị ôi thiu trong không khí, tuy nhiên người tiêu dùng nên lưu ý lựa chọn các chất bảo quản phù hợp vì một số chất có thể gây ra tác dụng phụ.
  • Paraben được dùng như một chất bảo quản phổ biến. Parabens là một nhóm các este alkyl của acid p-hydroxybenzoic, thường bao gồm methylparaben, ethylparaben, propylparaben, butylparaben, isobutylparaben, isopropylparaben, và benzylparaben. Các chất này gây kích ứng da ở một số người. Parabens được phân loại là hóa chất độc hại khi dùng trên da, đặc biệt là trong các sản phẩm kem sữa dưỡng da. Có một cuộc tranh luận rằng parabens có thể có liên quan tới sự phát triển của ung thư vú. * Theo một nghiên cứu công bố năm 2004 trên tạp chí Khoa chất độc ứng dụng, paraben đã được tìm thấy trong một số mẫu mô từ khối u vú của con người. Parabens được xem là một estrogen yếu. Có nhiều loại estrogen gây ra ung thư ở phụ nữ và ảnh hưởng đến sự phát triển của bé trai sắp dậy thì, có khả năng gây ung thư tinh hoàn. Nhưng do giá thành và khả năng bảo quản sản phẩm mạnh mẽ các nhà sản xuất vẫn rất ưa chuộng Parabens.
  • Chất bảo quản Methylisothiazolinone (MI) trong sữa tắm, khăn ướt có thể gây phản ứng dị ứng ở một số trẻ em. MI chính là hóa chất đã làm tăng đột biến các phản ứng dị ứng nguy hiểm với vô số sản phẩm chăm sóc sắc đẹp.
  • Iodopropynyl Butylcarbamate- được cho rằng có thể gây nguy hiểm cho sự sinh sản và phát triển của con người, nó làm giảm khả năng sinh sản, gây nguy hiểm cho thai kỳ, bị nghi ngờ là đầu độc hệ thần kinh, cơ quan tiêu hóa và làm tổn thương gan.
  • Một số chất bảo quản giải phóng ra một lượng nhỏ formaldehyde ( chất được sử dụng trong quá trình ướp xác chết ) gây ung thư. Hãy tránh tất cả những thành phần có chứa formaldehyde, giải phóng formaldehyde hay bị phá vỡ thành formaldehyde : Bronopol (thường được liệt kê như 2-brono-2-nitropropane-1 ,3-diol); diazolidinyl urea; DMDM hydantion; Imidazolidinyl urê; Quaternium 15. Nhiều người cho rằng Sodium Hydroxymethylglycinate có nguồn gôc tự nhiên nhưng nó thực chất là chất bảo quản amino acid được thay đổi hóa học, nó có thể bị phá vỡ thành formaldehyde, gây khó chịu cho da và luôn kích ứng mắt. Imidazolidinyl urea and DM hydantoine (Germall Plus, Germall II and Germal 115) cũng được liệt kê trong danh sách chất độc do có khả năng giải phóng formaldehyde là nguyên nhân chính gây ra bệnh chàm và viêm da tiếp xúc.

Formaldehyde có trong sơn móng tay sẽ làm làn da bị tấy rát, dễ gây dị ứng.

  • Saccharomyces/Zinc Ferment and Saccharomyces/Magnesium Ferment – các hợp chất này chưa được đánh giá an toàn trong mỹ phẩm, chúng làm tăng khả năng thẩm thấu vào da và mang theoo cả những chất độc hại. Ferment có nghĩa là quá trình lên men, làm lão hóa da và khi kết hợp với các khoáng chất kẽm và magie kim loại sẽ trở thành chất độc.
  • Chất làm mềm da có nguồn gốc silicon : những nghiên cứu gần đây cho thấy sự tiếp xúc kéo dài sẽ ngăn cản sự hô hấp của da và gây kích ứng. Một số chất làm mềm tổng hợp làm tăng kích cỡ các khối u, tích tụ trong gan và các hạch bạch huyết. Các chất này không phân hủy và tác động xấu đến môi trường. Silicon đã và đang được dùng để cấy ghép vú, nhiều người đã xuất hiện các triệu chứng suy nhược do tác dụng độc hại của silicon. Nguồn healthreport/uk.
  • Sodium Hydroxide – một chất kiềm mạnh được dùng để tẩy rửa trong công nghiệp, công nhân hít hơi nước có chứa natri hydroxit dễ bị tổn thương phổi và tăng nguy cơ ung thư cổ họng. Được sử dụng trong kem đánh răng như một chất điều chỉnh độ pH, có thể gây ra viêm da tiếp xúc và làm da dễ bị dị ứng. Theo MSDS thì đây là hóa chất nguy hiểm, có thể gây tử vong nếu nuốt phải, khi tiếp xúc với da có thể ăn mòn hoặc gây bỏng. Khi tiếp xúc lâu dài với sodium hydroxide pha loãng sẽ tác dụng phá hủy mô tế bào. Nguy cơ tiềm ẩn  là rối loạn hoạt động tế bào da, xuất hiện nhiều vấn đề ở mắt và suy giảm chức năng hô hấp.
  • Avobenzone, Benzophenone, PABA: Đây là các loại hoá phẩm chống nắng. Tác hại: Được biết đến như nguồn sản sinh ra các gốc tự do, đồng thời người ta tin rằng chúng còn gây ra ung thư hoặc phá hoại DNA di truyền.
  • SPF – kem dưỡng ẩm chứa SPF bảo vệ da khỏi ánh nắng mặt trời nhưng một số còn kèm tác dụng phụ nguy hiểm
  • Benzophenones (benzophenone-3, homosalate, và octy-methoxycinnamate (octinoxate) cho thấy hoạt động của estrogen trong phòng thí nghiệm.
  • Padimate-O and Parsol 1789 là các chất gây tổn hại DNA khi được kích hoạt bằng ánh nắng mặt trời.

Các hóa chất này trên bề mặt da bảo vệ da khỏi tác hại của tia cực tím, nhưng khi thấm vào da sẽ phá hủy cấu trúc da. Zinc oxide và titanium dioxide có hiệu quả chống nắng trên da mà không thẩm thấu vào da.


Tốt hơn hết bạn hãy tránh xa những thành phần chất độc hại này khi mua mỹ phẩm.

 

  • Talc – được đặc biệt dùng trong phấn em bé, sản phẩm khử mùi và chống tiết mồ hôi. Sử dụng lâu dài có thể tạo ra hiệu ứng tương tự như tiếp xúc lâu dài với amiăng. Nó được khai thác từ cùng một vị trí như amiăng. Nó là một chất gây ung thư. Nó kích thích hệ hô hấp, đặc biệt là ở trẻ sơ sinh. Hằng năm đã có những trẻ sơ sinh chết hoặc bị bệnh đường hô hấp nghiêm trọng sau khi hít phải bột phấn rôm vì bột talc không tan trong nước, không bị phân hủy bởi vi khuẩn, khi tích tụ trong phổi sẽ gây tắc nghẽn đường thở của trẻ ở nhiều mức độ.

Trẻ hít phải phấn rôm sẽ bị ho, khó thở, hắt hơi, sổ mũi, nôn ói, tím tái và có thể bị phù phổi. Biểu hiện lâm sàng thường nặng dần theo thời gian. Hít phải phấn rôm bôi da lâu ngày còn có thể gây “bệnh bụi phổi” do thành phần bột talc, silica và amian tích tụ lâu ngày trong phổi, gây xơ hóa mô kẽ và tạo các u hạt.

Các biện pháp loại thải độc chất thông thường không có tác dụng đối với ngộ độc do hít phải phấn rôm. Bệnh chỉ có thể điều trị triệu chứng và không có thuốc giải độc đặc hiệu. Ngoài ra, đối với các bé gái, việc sử dụng phấn rôm trong một thời gian dài sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư buồng trứng cao gấp bốn lần so với những trẻ bình thường khác.

Các nhà khoa học giải thích sở dĩ phấn rôm có liên quan tới khối u ác tính ở buồng trứng là do cấu tạo cơ thể bé gái. Hố chậu và bộ phận sinh dục bên trong của nữ thông với bên ngoài, do đó bụi phấn, chất ô nhiễm siêu nhỏ từ môi trường có thể xâm nhập vào hố chậu thông qua âm hộ, âm đạo, cổ tử cung, ống dẫn trứng dẫn đến viêm nhiễm, tạo điều kiện cho tế bào ung thư phát triển. Khi thoa phấn rôm vào vùng bụng dưới của bé gái, các hạt bụi phấn li ti sẽ dễ dàng xâm nhập cơ thể và nhiễm vào âm đạo của bé.

Hiện nay, dù chưa đưa ra kết luận chính thức về tác động gây ung thư buồng trứng của phấn rôm nhưng các nhà khoa học vẫn lên tiếng cảnh báo các bậc cha mẹ nên thận trọng, tốt nhất không nên sử dụng phấn rôm thoa vào phần bụng dưới của bé gái.

  • Triethanolamine – gây kích ứng da, gây mẫn cảm da, kích ứng mắt và kích hoạt hen suyễn, đầu độc hệ thống miễn dịch, gây ung thư.

Để tìm hiểu thêm về các thành phần độc hại có trong mỹ phẩm và các sản phẩm dưỡng da, các bạn có thể tham khảo thêm tại http://www.health-report.co.uk/ingredients-directory.htm

Viết bình luận